Tiểu Thanh Long Thang Trong Điều Hòa Phế Vệ Và Tán Hàn Ẩm

ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
Quản trị viên Người đóng góp nổi bật 18/11/2025 lúc 17:00

Bà con thân mến, trong suốt những năm làm nghề, tôi – Bác sĩ Tuyết Lan – thường gặp những trường hợp ho suyễn, đờm loãng trắng, người sợ lạnh, phát sốt nhưng không ra mồ hôi. Đây là nhóm triệu chứng cho thấy cơ thể đang bị phong hàn xâm nhập, bên trong lại tích ẩm, phế khí bế tắc. Trong kho tàng Thương hàn luận, Tiểu Thanh Long Thang là một cổ phương tiêu biểu được dùng để xử trí tình trạng ấy. Bài thuốc mang tính hệ thống: vừa giải biểu – tán hàn bên ngoài, vừa ôn phế – hóa ẩm bên trong.

Trong thực hành lâm sàng, bài thuốc được vận dụng cho nhiều trường hợp viêm phế quản mạn, hen phế quản theo thể hàn ẩm – nơi đờm loãng, lạnh nhiều hơn nhiệt. Với bà con, hiểu rõ thành phần, cơ chế và cách dùng là yếu tố quan trọng để sử dụng bài thuốc an toàn và có định hướng.

Thành phần

Công thức cổ phương nguyên bản gồm tám vị, mỗi vị giữ một vai trò đặc thù trong việc giải biểu – tán hàn – hóa thủy ẩm.

  • Ma hoàng 12 g: phát hãn, tuyên phế, bình suyễn.
  • Quế chi 12 g: tán hàn, thông dương, phối Bạch thược để điều hòa dinh vệ.
  • Bán hạ 12 g: táo thấp, hóa đờm, giảm ẩm đọng ở trung tiêu.
  • Tế tân 6 g: tân tán, ôn phế, hỗ trợ phá hàn ẩm.
  • Bạch thược 12 g: dưỡng âm, điều hòa với Quế chi.
  • Can khương 12 g: ôn trung, tán hàn, hóa ẩm.
  • Ngũ vị tử 6 g: liễm phế, chỉ khái, giảm ho suyễn.
  • Chích thảo 12 g: điều hòa các vị thuốc, giảm tính cay nóng, bảo vệ tỳ vị.

Công dụng

Theo Thương hàn luận, tác dụng chủ đạo của Tiểu Thanh Long Thang là giải biểu – tán hàn – ôn phế – hóa ẩm. Điều này phù hợp cho cơ địa phong hàn bên ngoài, thủy ẩm ứ đọng bên trong, phế khí mất tuyên phát.

Về sinh lý – dược lý hiện đại, phối hợp các vị thuốc giúp:

  • Giảm co thắt phế quản (nhờ Ma hoàng có ephedrin tự nhiên).
  • Giảm tiết dịch, giảm đờm loãng (Bán hạ, Can khương có tác dụng chống nôn – long đờm).
  • Tăng lưu thông tuần hoàn ngoại biên (Quế chi, Tế tân làm ấm cơ thể, cải thiện vi tuần hoàn).
  • Ổn định phản xạ ho (Ngũ vị tử có tác dụng giảm ho sinh học).

Bà con có thể hình dung bài thuốc vừa làm ấm ngoài, vừa hong khô bên trong, giúp phế đạo thông suốt và giảm ẩm lạnh tồn đọng.

Cách dùng và gia giảm

Bài thuốc dùng theo dạng sắc truyền thống: sắc nước, chia ba lần uống trong ngày, uống lúc còn ấm để phát huy khả năng tán hàn.

Các hướng gia giảm thường gặp:

  • Khi có chứng nhiệt, bứt rứt: gia Thạch cao thành Tiểu Thanh Long Gia Thạch Cao Thang để thanh nhiệt mà không mất tác dụng ôn phế.
  • Khi khát nhiều, dịch âm hao: bỏ Bán hạ, gia Thiên hoa phấn và Sinh địa nhằm sinh tân – dưỡng âm.
  • Khi ho nhiều, khó thở tăng: có thể tăng nhẹ Ngũ vị tử hoặc phối thêm Tử uyển, Khoản đông hoa (chỉ khi có chỉ định của thầy thuốc).
  • Khi đờm đặc hơn: gia Toan táo nhân hoặc Hạnh nhân để hỗ trợ nhuận phế, giáng nghịch.

Dù gia giảm theo từng thể bệnh, bà con tuyệt đối không tự điều chỉnh nếu chưa có thầy thuốc hướng dẫn, tránh làm sai lệch tính ôn tán của bài thuốc.

Đối tượng sử dụng

Bài thuốc phù hợp cho:

  • Người có biểu hiện phong hàn: sợ lạnh, phát sốt không mồ hôi.
  • Ho suyễn, đờm trắng loãng, dễ chạy lên họng.
  • Viêm phế quản mạn, hen phế quản theo thể hàn – đàm ẩm.
  • Người phù nhẹ, miệng không khát, rêu lưỡi trắng – nhuận, mạch phù khẩn.

Nhóm đối tượng này thường có xu hướng tích thấp, vệ khí yếu, dễ bị phong hàn xâm nhập, vì vậy bài thuốc giúp điều hòa phế vệ khá hiệu quả.

Chống chỉ định

Bài thuốc không phù hợp trong các trường hợp sau:

  • Ho đờm vàng, sốt cao, khát nước nhiều – biểu hiện nhiệt rõ.
  • Người âm hư hỏa vượng, miệng khô họng rát.
  • Phụ nữ có thai cần thận trọng, nhất là khi sử dụng vị Ma hoàng.
  • Người có tăng huyết áp, loạn nhịp tim không nên tự dùng Ma hoàng.
  • Trẻ nhỏ hoặc người cao tuổi suy kiệt cần được thăm khám trước.

Bà con cần phân biệt hàn – nhiệt rõ ràng, bởi dùng sai thể có thể khiến bệnh nặng thêm.

Tiểu Thanh Long Thang là một cổ phương kinh điển, kết hợp hài hòa giữa phát hãn – tuyên phế – hóa ẩm, phù hợp với cơ địa phong hàn đàm ẩm mà tôi vẫn gặp hằng ngày trong thực hành. Tuy nhiên, mỗi cơ thể có một mô hình bệnh khác nhau; việc dùng thuốc luôn cần biện chứng rõ ràng. Bà con nếu nhận thấy mình có triệu chứng tương tự, hãy đến thầy thuốc chuyên khoa để được đánh giá toàn diện. Tôi luôn mong được đồng hành cùng bà con trên hành trình chăm sóc sức khỏe, gìn giữ sự an hòa trong từng hơi thở và từng tạng phủ.

Cập nhật lúc: 17:38 - 18/11/2025
chia sẻ bài viết:
Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Tuyết Lan
Thạc sĩ, Bác sĩ
Nguyễn Thị Tuyết Lan

Tôi là ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan – Nguyên Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện YHCT Trung ương, hiện là Giám đốc chuyên môn Trung tâm Thuốc Dân Tộc. Hơn 40 năm làm nghề, tôi luôn tâm huyết gìn giữ và phát triển tinh hoa y học dân tộc, mang đến giải pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho người bệnh

BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn
BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn

Lão gửi gắm đôi điều:

Đông y trị bệnh là khai thông khí huyết, điều hòa âm dương, dưỡng tạng phủ cho vững – có gốc mạnh thì ngọn mới bền!