Bệnh Bạch Hầu: Dấu Hiệu, Biến Chứng Và Cách Điều Trị

ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
Quản trị viên Người đóng góp nổi bật 30/12/2025 lúc 15:21
Có những cơn đau họng tưởng như rất nhẹ, nhưng phía sau lại ẩn nguy cơ bạch hầu khó lường. Nhận biết sớm dấu hiệu và đi khám đúng lúc giúp bảo vệ tim, đường thở và cả người thân quanh mình. Bà con hãy lắng nghe cơ thể mình nhé.

Bà con thân mến, bạch hầu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính có thể tiến triển nhanh và để lại hậu quả nặng nề nếu phát hiện muộn. Ở Việt Nam, bệnh không còn bùng phát rộng như thời trước nhờ tiêm chủng, nhưng những năm gần đây vẫn ghi nhận các ổ dịch lẻ tẻ tại một số địa phương, thường liên quan nhóm chưa tiêm hoặc tiêm chưa đủ mũi nhắc.

Về Tây y, bạch hầu gây nguy hiểm chủ yếu do vi khuẩn tạo độc tố và hình thành giả mạc ở vùng hầu họng, có thể làm tắc đường thở và gây tổn thương tim, thần kinh. Về Đông y, bệnh thuộc phạm vi ôn dịch, thường biểu hiện nhiệt độc uất kết tại yết hầu khiến sưng đau, khản tiếng, kèm suy giảm thể lực khi chính khí không vững.

Điều quan trọng tôi muốn bà con nắm rõ: đây là bệnh cần nhận diện sớm, xử trí đúng và phối hợp chặt chẽ với cơ sở y tế để giảm nguy cơ biến chứng.

Triệu chứng bệnh bạch hầu

Bạch hầu thường khởi phát bằng những dấu hiệu khá giống viêm họng thông thường, nên bà con dễ chủ quan. Triệu chứng điển hình nhất là sự xuất hiện giả mạc màu trắng xám hoặc trắng ngà ở amidan, thành họng hoặc thanh quản. Giả mạc có xu hướng bám chắc; nếu cố cạy có thể gây chảy máu và làm tổn thương niêm mạc.

Triệu chứng nhẹ

Bà con có thể thấy sốt nhẹ hoặc hơi gai lạnh, mệt mỏi, đau họng, nuốt vướng, chán ăn. Họng đỏ rát, đôi khi ho khan nhẹ. Ở giai đoạn này, biểu hiện toàn thân chưa rầm rộ nên rất dễ nhầm với cảm cúm hay viêm họng do virus.

Triệu chứng trung bình

Đau họng tăng dần, nuốt đau rõ hơn, hơi thở có thể hôi. Giả mạc bắt đầu thấy rõ hơn ở amidan hoặc thành sau họng, màu trắng xám, ranh giới tương đối rõ và bám dính. Hạch cổ có thể sưng đau, giọng nói khàn nhẹ. Một số trường hợp có phù nề vùng cổ, cảm giác tức nghẹn tăng khi ăn uống.

Triệu chứng nặng

Khi tổn thương lan xuống thanh quản hoặc phù nề nặng, bà con có thể xuất hiện khó thở, thở rít, khò khè, tím môi, vã mồ hôi, lừ đừ. Vùng cổ có thể sưng to, nhìn như cổ bò do phù nề và hạch to. Đây là giai đoạn nguy hiểm vì nguy cơ tắc nghẽn đường thở và nhiễm độc toàn thân tăng cao. Trong tình huống bà con có dấu hiệu khó thở, thở rít, tím tái, lơ mơ hoặc cổ sưng nhanh, cần đi cấp cứu ngay; còn nếu đang ở giai đoạn nghi ngờ hoặc mới chớm triệu chứng, bà con có thể chủ động đặt lịch tại Khám và chữa bệnh Y học cổ truyền hoặc gọi 0904.778.682 để tôi tư vấn hướng theo dõi an toàn.

Nỗi lo và biến chứng

Điều khiến bạch hầu đáng ngại không chỉ nằm ở đau họng hay sốt, mà ở giả mạc có thể gây bít tắc đường thở và độc tố có thể tác động lên nhiều cơ quan. Biến chứng quan trọng gồm suy hô hấp do tắc nghẽn, viêm cơ tim và rối loạn nhịp tim, tổn thương thần kinh như yếu cơ, liệt màn hầu gây sặc khi nuốt, và có thể ảnh hưởng thận ở một số trường hợp. Nỗi lo thường gặp của bà con là nhầm với viêm họng thường, tự ý cạy giả mạc, chậm đến cơ sở y tế, đồng thời lo lây cho người thân trong nhà, nhất là trẻ nhỏ và người chưa tiêm nhắc. Với bạch hầu, chậm trễ vài ngày có thể làm tăng nguy cơ biến chứng, kể cả khi triệu chứng họng có lúc tưởng như giảm.

Nguyên nhân và cơ chế

Về mặt vi sinh, bạch hầu do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Vi khuẩn thường xâm nhập qua đường hô hấp khi tiếp xúc gần với người bệnh hoặc người mang vi khuẩn, qua giọt bắn và dịch tiết. Khi bám vào niêm mạc họng, vi khuẩn tạo tổn thương tại chỗ và hình thành lớp giả mạc gồm fibrin, tế bào viêm và vi khuẩn. Giả mạc bám chắc làm hẹp lòng họng, thanh quản; nếu bóc tách thô bạo dễ chảy máu và làm lan rộng tổn thương.

Điểm nguy hiểm hơn nằm ở độc tố bạch hầu. Độc tố có thể đi vào máu và tác động lên tế bào cơ tim, mô thần kinh ngoại biên và một số cơ quan khác, gây rối loạn dẫn truyền tim, suy tim hoặc yếu liệt. Từ góc nhìn Đông y, bệnh thuộc phạm vi ôn dịch, thường biểu hiện nhiệt độc tụ ở phế vị trí hầu họng, làm niêm mạc sưng nề, tiết dịch quánh, sinh đờm trệ; khi chính khí suy, tà dễ nhập sâu, biểu hiện mệt lả, khí lực giảm, ăn uống kém. Dù diễn giải theo hệ quy chiếu nào, cơ chế chung vẫn là tổn thương niêm mạc đường hô hấp kết hợp độc tố gây ảnh hưởng toàn thân, nên xử trí sớm và theo dõi sát là then chốt.

Phương pháp điều trị

Nguyên tắc điều trị bạch hầu là can thiệp sớm, ưu tiên kiểm soát đường thở, trung hòa độc tố và diệt vi khuẩn, đồng thời phòng lây lan trong cộng đồng. Bà con tuyệt đối không tự điều trị tại nhà nếu có giả mạc rõ, khó thở, cổ sưng nhanh, mệt lả hoặc dấu hiệu nhiễm độc.

Điều trị theo Tây y

Trong thực hành lâm sàng, người bệnh bạch hầu thường được đánh giá mức độ nặng ngay từ đầu, đặc biệt là nguy cơ tắc đường thở. Cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn giúp giảm lây lan. Huyết thanh kháng độc tố bạch hầu được sử dụng theo chỉ định càng sớm càng tốt vì độc tố khi đã gắn vào mô thì khó đảo ngược. Kháng sinh được dùng để diệt vi khuẩn, giảm tạo độc tố và giảm khả năng lây cho người xung quanh. Bên cạnh đó, bác sĩ theo dõi sát tim mạch và thần kinh, làm các xét nghiệm cần thiết như điện tim, men tim khi nghi biến chứng, và hỗ trợ hô hấp nếu có dấu hiệu suy hô hấp hoặc hẹp đường thở.

Ưu điểm của điều trị Tây y là tác động trực tiếp vào căn nguyên và độc tố, có khả năng giảm tử vong và giảm biến chứng khi triển khai sớm, đồng thời có quy trình kiểm soát lây nhiễm rõ ràng. Hạn chế là hiệu quả phụ thuộc nhiều vào thời điểm can thiệp và điều kiện theo dõi chuyên môn; nếu đến muộn, độc tố đã gây tổn thương cơ tim hay thần kinh thì hồi phục có thể kéo dài và cần chăm sóc phục hồi chức năng.

Điều trị hỗ trợ theo Đông y

Trong bạch hầu, vai trò của Đông y được đặt đúng vị trí là hỗ trợ, đặc biệt ở giai đoạn hồi phục sau khi đã điều trị đặc hiệu và hết nguy cơ cấp cứu. Mục tiêu thường là giúp bà con giảm khó chịu vùng họng, nâng đỡ thể lực, cải thiện ăn ngủ, phục hồi sức bền, đồng thời điều hòa cơ địa để giảm mệt kéo dài. Tôi nhấn mạnh với bà con rằng mọi can thiệp theo Đông y cần được thăm khám trực tiếp để đánh giá tình trạng cụ thể, không tự ý dùng theo truyền miệng, và luôn ưu tiên an toàn khi phối hợp với phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Nếu bà con muốn được tôi xem kỹ thể trạng và cân nhắc bài thuốc đông y phù hợp để hỗ trợ phục hồi sau giai đoạn cấp, bà con có thể đặt lịch tại Khám và chữa bệnh Y học cổ truyền và gọi 0904.778.682 để tôi tư vấn trực tiếp.

Chăm sóc và phòng ngừa

Chăm sóc đúng giúp người bệnh dễ hồi phục và giảm lây lan cho gia đình. Phòng ngừa tốt giúp cộng đồng tránh các ổ dịch nhỏ tái xuất hiện, đặc biệt ở nhóm trẻ em và người lớn đã lâu không tiêm nhắc.

Ăn uống

Khi còn đau họng hoặc nuốt khó, bà con nên ưu tiên thức ăn mềm, ấm, dễ nuốt như cháo, súp, sữa ấm, rau củ hầm nhừ; uống đủ nước để giảm khô rát và hỗ trợ cơ thể đào thải chất chuyển hóa. Tránh đồ cay nóng, chiên rán, rượu bia và đồ quá lạnh vì có thể kích thích niêm mạc họng, làm tăng cảm giác đau rát. Dụng cụ ăn uống nên dùng riêng, rửa sạch bằng nước nóng và xà phòng, hạn chế dùng chung cốc, muỗng, khăn mặt trong gia đình.

Sinh hoạt

Bà con cần nghỉ ngơi đầy đủ, giữ ấm vùng cổ ngực, tránh khói thuốc và môi trường bụi vì dễ kích thích đường thở. Thực hành vệ sinh hô hấp đúng cách như che miệng khi ho, rửa tay thường xuyên, lau sạch bề mặt hay chạm tay, và tuân thủ hướng dẫn cách ly của cơ sở y tế. Đặc biệt, tiêm chủng đầy đủ và tiêm nhắc đúng lịch là biện pháp phòng bệnh bền vững nhất để tạo miễn dịch cộng đồng, giúp giảm khả năng bùng phát ổ dịch ở trường học, khu dân cư đông người.

Vận động và tâm lý

Trong giai đoạn còn mệt, sốt hoặc khó thở, ưu tiên nghỉ ngơi và theo dõi triệu chứng. Khi đã hồi phục, bà con có thể vận động nhẹ như đi bộ chậm, tập thở sâu, giãn cơ vừa phải, tránh gắng sức sớm vì bạch hầu có nguy cơ ảnh hưởng tim, cần thận trọng nếu có hồi hộp, đau ngực, hụt hơi khi gắng sức. Về tâm lý, giữ bình tĩnh, theo dõi dấu hiệu cảnh báo và có người thân đồng hành sẽ giúp người bệnh bớt lo âu, ăn ngủ tốt hơn và hồi phục ổn định hơn.

Bà con hãy nhớ, bạch hầu là bệnh có thể phòng ngừa hiệu quả bằng tiêm chủng và có thể kiểm soát tốt nếu phát hiện sớm, điều trị đúng. Tôi luôn mong bà con chọn cách tiếp cận khoa học, không chủ quan trước giả mạc, khó thở hay mệt lả, và cũng không hoang mang quá mức. Khi mình hiểu bệnh và đi đúng đường, cơ thể sẽ có cơ hội hồi phục vững vàng, gia đình cũng được bảo vệ an toàn hơn.

Cập nhật lúc: 11:01 - 07/01/2026
Chia sẻ bài viết:
Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Tuyết Lan
Thạc sĩ, Bác sĩ
Nguyễn Thị Tuyết Lan

Tôi là ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan – Nguyên Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện YHCT Trung ương, hiện là Giám đốc chuyên môn Trung tâm Thuốc Dân Tộc. Hơn 40 năm làm nghề, tôi luôn tâm huyết gìn giữ và phát triển tinh hoa y học dân tộc, mang đến giải pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho người bệnh

BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn
BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn

Lão gửi gắm đôi điều:

Đông y trị bệnh là khai thông khí huyết, điều hòa âm dương, dưỡng tạng phủ cho vững – có gốc mạnh thì ngọn mới bền!