Hương Tô Tán Trong Điều Hòa Biểu Lý Và Hỗ Trợ Cảm Phong Hàn Kèm Khí Trệ

ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan
Quản trị viên Người đóng góp nổi bật 18/11/2025 lúc 16:47

Bà con thân mến, trong suốt nhiều năm hành nghề, tôi – Bác sĩ Tuyết Lan – luôn trân trọng những giá trị cổ phương đã đồng hành cùng người Việt mình qua bao thế hệ. Một trong những phương thuốc tiêu biểu ấy là Hương Tô Tán, bài thuốc được ghi trong Hòa Tễ Cục Phương và vẫn còn nhiều giá trị lâm sàng đến ngày nay. Đây là phương chuyên dùng khi cơ thể bị ngoại cảm phong hàn nhưng đồng thời có khí trệ ở trung tiêu, gây nên đầy tức ngực bụng, ăn uống kém, người nóng mà sợ lạnh, khó ra mồ hôi.

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin phân tích ngắn gọn và mạch lạc để bà con hiểu rõ thành phần, tác dụng sinh lý – dược lý, cách dùng và gia giảm, đối tượng phù hợp cũng như chống chỉ định khi sử dụng bài thuốc.

Thành phần

Bài thuốc Hương Tô Tán gồm bốn vị, kết cấu đơn giản nhưng rất có dụng ý:

  • Tô diệp (160 g) – vị cay, ấm, thơm; chủ dược của phương.
  • Hương phụ (160 g) – vị cay, hơi đắng; quy Can – Tỳ.
  • Trần bì (80 g) – vị cay đắng, ấm; quy Tỳ – Phế.
  • Chích thảo (40 g) – vị ngọt, bình; điều hòa các vị.

Các vị thuốc được tán mịn, mỗi lần dùng khoảng 12g sắc uống; hoặc có thể chuyển sang dạng thang với liều giảm thích hợp.

Tác dụng

Bài thuốc được xây dựng xoay quanh hai trục tác dụng quan trọng:

  • Phát hãn, giải biểu: Nhờ tác dụng của Tô diệp, giúp cơ thể đẩy nhẹ phong hàn ra ngoài, điều hòa vệ khí.
  • Lý khí, hòa trung: Hương phụTrần bì hỗ trợ điều khí, giải uất ở trung tiêu, giảm cảm giác đầy tức ngực – bụng, cải thiện ăn uống.

Nhờ sự phối hợp này, bài thuốc phù hợp với người bị ngoại cảm phong hàn nhưng kèm khí cơ uất trệ, không ra mồ hôi, đau đầu, sợ lạnh, bụng ngực đầy tức, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù.

Cách dùng và gia giảm

Cách dùng phổ biến là tán bột, mỗi lần sắc uống khoảng 12g; hoặc dùng dạng thang tùy điều kiện. Khi ứng dụng lâm sàng, tôi thường lưu ý điều chỉnh gia giảm theo biểu hiện cụ thể của bà con:

  • Phong hàn nặng, ngạt mũi: gia Thông bạch, Sinh khương để tăng lực giải biểu, thông khiếu.
  • Đau đầu nhiều: gia Mạn kinh tử, Bạch tật lê giúp sơ phong, chỉ thống.
  • Khí nghịch, ho và đàm nhiều: gia Tô tử, Bán hạ nhằm giáng khí hóa đàm.
  • Đau bụng do khí trệ: nếu đầy tức nhiều, gia Hậu phác – Chỉ xác; nếu thức ăn không tiêu, gia Kê nội kim – Thần khúc để hóa thực đạo trệ.

Đối tượng sử dụng

Tôi thường cân nhắc Hương Tô Tán cho những trường hợp sau:

  • Người bị cảm phong hàn kèm đầy tức ngực bụng, ăn uống kém.
  • Người ngoại cảm nhưng không ra mồ hôi, mạch phù, rêu lưỡi trắng mỏng.
  • Trường hợp cảm mạo kèm triệu chứng tiêu hóa như buồn nôn nhẹ, chán ăn do khí trệ.

Chống chỉ định

Do bài thuốc có tính ấm, bà con cần lưu ý:

  • Không dùng cho người âm hư có nhiệt, miệng khô nóng, bứt rứt, lưỡi đỏ ít rêu.
  • Không phù hợp với cảm phong nhiệt.
  • Thận trọng ở người tăng tiết mồ hôi, thể nhiệt, hoặc đang sốt cao do nhiệt độc.

Bà con thấy đấy, tuy chỉ gồm bốn vị nhưng Hương Tô Tán lại là một phương điển hình trong việc vừa giải biểu phong hàn, vừa lý khí hòa trung. Khi dùng đúng cơ địa và đúng hội chứng, bài thuốc có thể hỗ trợ rất tốt trong những đợt cảm mạo kèm rối loạn tiêu hóa. Như tôi vẫn nhắc, Đông y coi trọng biện chứng luận trị, nên bà con hãy thăm khám đầy đủ trước khi sử dụng để tránh dùng sai thể – sai thời. Tôi luôn sẵn lòng đồng hành cùng bà con trên hành trình giữ gìn sức khỏe một cách an toàn và hiểu đúng giá trị của cổ phương.

Cập nhật lúc: 17:37 - 18/11/2025
chia sẻ bài viết:
Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Tuyết Lan
Thạc sĩ, Bác sĩ
Nguyễn Thị Tuyết Lan

Tôi là ThS.BS. Nguyễn Thị Tuyết Lan – Nguyên Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện YHCT Trung ương, hiện là Giám đốc chuyên môn Trung tâm Thuốc Dân Tộc. Hơn 40 năm làm nghề, tôi luôn tâm huyết gìn giữ và phát triển tinh hoa y học dân tộc, mang đến giải pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho người bệnh

BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn
BS CKII. TTUT Lê Hữu Tuấn

Lão gửi gắm đôi điều:

Đông y trị bệnh là khai thông khí huyết, điều hòa âm dương, dưỡng tạng phủ cho vững – có gốc mạnh thì ngọn mới bền!